Showing posts with label Hệ thống điện. Show all posts
Showing posts with label Hệ thống điện. Show all posts
Nâng cao hiệu quả sử dụng điện với lưới điện thông minh

Nâng cao hiệu quả sử dụng điện với lưới điện thông minh

Lưới điện thông minh giúp tối ưu hóa công tác quản lý, chi phí vận hành lưới điện; đa dạng các nguồn phát điện; nâng cao hiệu quả sử dụng điện, đảm bảo chất lượng điện năng; thêm nhiều dịch vụ cho khách hàng…



Giải pháp cho hệ thống điện tích hợp nguồn năng lượng tái tạo
Lưới điện thông minh là một hệ thống lưới điện sử dụng công nghệ kỹ thuật số để giám sát và quản lý việc chuyển tải điện từ tất cả các nguồn phát điện nhằm đáp ứng nhu cầu điện luôn thay đổi của người dùng cuối cùng.

Lưới điện truyền thống có nhiều hạn chế như tiếp nhận nguồn điện tập trung lớn, quá trình vận hành mang tính thủ công, khó giám sát, kiểm soát, thông tin giao tiếp một chiều, dễ bị mất điện trong thời gian dài khi có sự cố, đặc biệt khách hàng có ít lựa chọn hơn. Trong khi đó, lưới điện thông minh có thể tích hợp nhiều nguồn điện phân tán lớn nhỏ, tự khôi phục hoặc tách lưới khi có sự cố, dễ quản lý vận hành, giám sát… đồng thời khách hàng có nhiều lựa chọn hơn cho nhu cầu của mình.

Tỷ trọng năng lượng tái tạo đang ngày càng tăng đặt ra những thách thức rất lớn về tính ổn định của hệ thống điện tại Việt Nam. Nguyên nhân do các nguồn điện từ năng lượng tái tạo là không chủ động, nguồn điện phát biến động phụ thuộc vào thiên nhiên (điện gió và điện mặt trời), thời gian phát điện từ gió và mặt trời cũng không ổn định. Bên cạnh đó, đặc thù của các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (gió, mặt trời) thường phân tán, có quy mô nhỏ. Vì vậy, khi nối với lưới điện quốc gia sẽ tác động đến tính ổn định của toàn hệ thống.

Trong khi đó, theo chuyên gia Manuel Loesch, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ thông tin FZI (Đức), hệ thống lưới điện tại Việt Nam được thiết kế trước đây phục vụ cho những giả định đến nay đã có những yếu tố không còn phù hợp. Để đảm bảo hiệu quả cho công tác quản lý, vận hành hệ thống điện trong quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, cần phải có những thay đổi đáng kể về cơ cấu hệ thống tổng thể lưới điện và cơ chế kiểm soát. Trong đó, ứng dụng các giải pháp công nghệ để vận hành lưới điện một cách thông minh theo hướng quản lý hiệu quả về nhu cầu, quản lý năng lượng dựa vào công nghệ thông tin và truyền thông, đo đếm điện một cách thông minh.

Dù đã có những kết quả bước đầu sau 7 năm thực hiện Lộ trình lưới điện thông minh nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hệ thống điện hiện tại của Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức cơ bản như hạ tầng công nghệ thông tin còn yếu chưa đáp ứng vận hành điều độ theo thời gian thực; sai số dự báo công suất các nhà máy điện năng lượng tái tạo vẫn ở mức cao; công suất phát và khả năng truyền tải của lưới điện hạn chế; chi phí và phát thải tăng; dữ liệu chưa được lưu trữ và xử lý một cách phân tán, chưa tập trung. Điều này gây ra nguy cơ thiếu điện do không huy động hết tất cả các nguồn điện, nhất là năng lượng tái tạo, nguy cơ ô nhiễm môi trường... Bên cạnh đó, nhu cầu điện cao song vẫn sử dụng điện lãng phí, chưa hiệu quả làm giảm năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng quan về lưới điện thông minh

Tổng quan về lưới điện thông minh

Các hệ thống lưới điện hiện hành hầu hết đang sử dụng công nghệ của những năm 1970. Tuy nhiên, với sự ra đời của các công nghệ sản xuất điện tiên tiến, cùng với các vấn đề về thiếu điện, mất cắp điện cũng như nhu cầu sử dụng điện tăng cao, đã dẫn tới yêu cầu về một mạng lưới điện hiện đại, đáp ứng được tất cả các yêu cầu của hộ tiêu thụ. Một lưới điện như vậy được gọi là lưới điện thông minh.

Lưới điện thông minh mang lại rất nhiều cải tiến như: tăng cường sự ổn định, độ tin cậy và hiệu năng của lưới điện, giảm thiểu mất mát trên đường dây tải điện. Các công nghệ hiện đại như cảm biến và đo lường, các thiết bị điện nâng cao được áp dụng để phát triển các tính năng của lưới điện. Trong bài báo này, các tính năng của lưới điện thông minh và công nghệ sử dụng tương ứng sẽ được thảo luận và đánh giá.

Giới thiệu về lưới điện thông minh
Khái niệm lưới điện nói chung đề cập tới tất cả hoặc một phần của lưới điện, nói một cách đơn giản đó là một cách thức để truyền tải và phân phối điện năng. Lưới điện phân phối điện từ các điểm phát điện tới người sử dụng. Mạng phân phối điện thực hiện chức năng phân phối thông qua hai hệ thống chính: hệ thống truyền dẫn và hệ thống phân phối. Các hệ thống truyền dẫn truyền tải điện từ các nhà máy điện tới các trạm phân phối, trong khi đó các hệ thống phân phối sẽ phân phối điện từ các trạm phân phối tới hộ tiêu dùng.

Lưới điện cũng bao gồm vô số các mạng khu vực cung cấp tài nguyên năng lượng tới các tải đáp ứng yêu cầu của một số ứng dụng đòi hỏi cấp điện ở xa, điện chất lượng cao hay bảo vệ các tải quan trọng.

Không có một định nghĩa chuẩn cho lưới điện thông minh, nhưng có thể hiểu đó là hệ thống lưới điện sử dụng công nghệ tiên tiến để tăng độ tin cậy và hiệu suất của lưới, kể từ khâu truyền tải cho tới khâu phân phối. Lưới điện thông minh mang đến một cơ sở hạ tầng phân phối điện tốt hơn so với lưới điện thông thường.

Các nhà máy điện và mạng lưới truyền tải điện hiện nay đã và đang ngày càng trở nên cũ kỹ, lạc hậu. Điều đó đồng nghĩa với việc rất khó để có thể quản lý và điều tiết các nhu cầu sử dụng điện năng. Nhu cầu sử dụng điện có thể giảm nhưng cũng có thể liên tục tăng cao. Một giải pháp có thể xem xét đến là xây dựng thêm các đường dây tải điện, nhưng như vậy thì các hệ thống cũ kỹ hiện có sẽ bị bỏ đi một cách lãng phí.

Bởi vậy, thay vì sử dụng một giải pháp mang tính tạm thời, cần phải tìm được một giải pháp tin cậy hơn và lâu dài hơn. Một giải pháp được xem là tối ưu nhất để hướng tới một hệ thống lưới điện thông minh là sử dụng các đồng hồ đo thông minh.

Vì sao cần một hệ thống lưới điện được hiện đại hóa?
Có 4 lí do chính dẫn đến nhu cầu phải hiện đại hóa lưới điện hiện nay, đó là:
  • Cần phải nâng cao độ tin cậy, hiệu suất và độ an toàn cho lưới điện
  • Cần phải cho phép phân tán việc sản xuất điện để các hộ tiêu dùng có thể vừa là khách hàng, vừa là nhà cung cấp (cung cấp cho các hộ tiêu dùng các công cụ tương tác để quản lý năng lượng sử dụng)
  • Cần phải đa dạng hóa việc sử dụng năng lượng ở phía khác hàng, cho phép khách hàng lựa chọn nhà cung cấp (điện nhà máy, điện mặt trời, điện gió hay điện sinh học).
  • Hiện đại hóa lưới điện giúp tăng cường GDP của một quốc gia nhờ tạo ra nhiều việc làm mới liên quan đến ngành công nghiệp tái tạo năng lượng, các thiết bị điện, pin mặt trời, máy phát điện tuabin gió…
Các mục tiêu của lưới điện thông minh
Lưới điện thông minh có 02 mục tiêu chính:

Mục tiêu thứ nhất: giám sát hệ thống truyền tải, bảo đảm những yêu cầu sau:
  • Giám sát theo thời gian thực các điều kiện của lưới điện
  • Cải thiện tính năng chẩn đoán tự động các nhiễu loạn trên lưới, hỗ trợ người vận hành trong việc xử lí các vấn đề phát sinh
  • Tự động phản ứng với các lỗi trên lưới, cách ly vùng nhiễu loạn trên lưới nhằm ngăn chặn các lỗi lan truyền
  • Có khả năng kết nối các nhà máy điện mới vào lưới theo mô hình “Plug & Play”, giảm thời gian cần thiết để nghiên cứu kết nối cũng như nâng cấp vật lý các thiết bị trong lưới
  • Tự động khôi phục điện lưới nhờ kết hợp các cảm biến, phân tích trên máy tính và các thiết bị trạm điện cao cấp. Đồng thời có khả năng định tuyến lại đường truyền tải khi cần
  • Nâng cao khả năng quản lý các nguồn năng lượng điện mặt trời và năng lượng điện gió

Mục tiêu thứ 2: quản lý tiêu thụ năng lượng điện
  • Lưới điện thông minh ít nhất phải truyền tải được thông điệp tới người sử dụng hoặc đơn vị kinh doanh điện: điện năng rất đắt và không dễ truyền tải. Điều này có thể thực hiện dễ dàng thông qua các bộ hiện thị, qua trình duyệt web hoặc qua phần mềm trên máy tính. Mục tiêu là giúp khách hàng hiểu rõ tầm quan trọng của việc tiết kiệm điện.

  • Tiếp theo là cho phép tự động giảm mức độ sử dụng điện năng của các hộ tiêu dùng khi chi phí điện tăng quá cao. Có thể quản lý được vấn đề này thông qua khả năng liên kết dữ liệu giữa các đồng hồ đo thông minh và các thiết bị gia dụng của hộ tiêu dùng.

  • Lưới điện thông minh sẽ tự động phát hiện các lỗi trên đường dây tải điện, xác định chính xác thiết bị lỗi và hỗ trợ đưa ra các kế hoạch tối ưu để sửa chữa, khắc phục sự cố. Lưới điện thông minh còn có thể cách ly vùng bị lỗi khỏi các vùng lân cận để tránh gây tổn thất lớn trên hệ thống.

  • Lưới điện thông minh sẽ giúp cho việc lắp đặt các hệ thống phân phối năng lượng dễ dàng hơn, ví dụ lắp đặt các tấm panel pin mặt trời trên mái nhà. Nó cũng cho phép đo lường toàn mạng lưới, cũng như quản lý kết nối của hàng triệu thiết bị trong toàn hệ thống điện.
Tập trung vào các công nghệ tiên tiến
Lưới điện thông minh được xây dựng và phát triển dựa trên sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Các công nghệ này được ứng dụng vào các quá trình chính của lưới điện: dây dẫn truyền tải và dây dẫn phân phối điện, các thiết bị đo tại nơi tiêu thụ điện, các thiết bị điện gia dụng của hộ tiêu dùng và các mạng hộ gia đình HAN (Home Area Networks).

Dây dẫn
Các dự án lưới điện thông minh tập trung vào dây dẫn điện sẽ hướng tới các mục tiêu:
• Các đường dây tải điện siêu dẫn nhiệt độ cao sẽ thay thế cho các đường dây tải điện cũ kỹ
• Dây dẫn điện mới có thể lắp đặt dưới lòng đất để không gây ảnh hưởng tới cảnh quan chung
• Các công nghệ cảm biến và điều khiển. Các công nghệ này cho phép báo cáo và giải quyết các sự cố của lưới theo thời gian thực.
• Các thiết bị điện tử thông minh dùng trong quá trình truyền tải và phân phối. Các thiết bị này giúp đưa ra cảnh báo, tự động phản ứng với các vấn đề và tích hợp vào các nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo mới.

Cảm biến và đo lường
Nhiệm vụ cốt lõi của cảm biến và đo lường trong mạng lưới là đánh giá sự ổn định và trạng thái của lưới điện, theo dõi tình trạng hoạt động của các thiết bị, ngăn chặn hiện tượng lấy cắp điện và hỗ trợ các chiến lược quản lý, vận hành mạng lưới. Ngày nay, có rất nhiều công nghệ tiên tiến đã được sử dụng như: đồng hồ đo thông minh, hệ thống cảm biến, thiết bị đóng cắt nâng cao, Relay bảo vệ kỹ thuật số…Trong đó, đồng hồ đo thông minh đóng một vai trò hết sức quan trọng.

Trong đo lường thông minh, cơ sở hạ tầng đo lường nâng cao (AMI) của các đồng hồ đo và hệ thống truyền thông hai chiều sẽ hoạt động giống như một cổng tương tác giữa nhà cung cấp và hộ tiêu thụ. Đo lường thông minh có thể giúp giảm chi phí cho cả nhà cung cấp và người sử dụng điện.

Khi nhìn vào các đồng hồ đo điện hiện hành, ta sẽ thấy nó có các cơ cấu và con số hiển thị mang tính rất cơ khí. Một nhân viên của công ty điện lực sẽ đến đọc nó, xác định điện năng sử dụng trong tháng của bạn và cuối cùng đưa cho bạn một hóa đơn. Với các đồng hồ đo điện thông minh thì khác. Nó sử dụng công nghệ giám sát theo thời gian thực (RTM). Một màn hình hiển thị sẽ cho người dùng biết lượng điên năng mà mình sử dụng một cách chính xác và trực quan nhất.

Các thiết bị nâng cao
Sự cải tiến trong công nghệ siêu dẫn, lưu trữ, xác định lỗi, điện tử công suất và các thiết bị chẩn đoán đang làm thay đổi cơ bản khả năng và đặc tính của lưới điện. Nhờ sự phát triển trong nghiên cứu và phát triển, một loạt các thiết bị thông minh đã ra đời, mang đến sự đa dạng và phát triển cho lưới điện: dây cáp siêu dẫn nhiệt độ cao, các thiết bị lưu trữ và phân phối năng lượng điện, thiết bị dẫn composite, thiết bị gia dụng thông minh…Các thiết bị này đóng góp rất lớn vào sự hình thành và mở rộng của lưới điện thông minh.
Công nghệ trạm biến áp số trong hệ thống điện

Công nghệ trạm biến áp số trong hệ thống điện

Trạm biến áp (TBA) số sẽ thay thế toàn bộ mạch điện nối cáp đồng của trạm biến áp thông thường bằng cáp quang. Việc truyền nhận dữ liệu từ các thiết bị ngoài trời vào trong nhà điều hành được “số hóa” toàn bộ. Đây là công nghệ trạm biến áp hiện đại nhất thế giới hiện nay.

Chuyển đổi số tại trạm là việc chuyển đổi thông tin, tín hiệu tương tự thành tín hiệu số để xử lý, lưu trữ và truyền thông tin thông qua các giao thức truyền thông số. Việc chuyển từ sử dụng trạm biến áp truyền thống sang trạm biến áp số sẽ làm tăng mức độ an toàn cho con người và thiết bị; giảm diện tích lắp đặt thiết bị đồng thời nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.



Ở trạm biến áp truyền thống, các thiết bị nhất thứ trong trạm và các thiết bị nhị thứ được kết nối bằng dây dẫn cáp đồng dẫn đến tạo ra rất nhiều các kết nối phần cứng phức tạp. Việc giao tiếp giữa các ngăn trong trạm nhờ vào giao thức IEC-61850. Nhưng ở trạm biến áp số, các tín hiệu (tín hiệu đo lường, bảo vệ, điều khiển, trạng thái) truyền từ thiết bị nhất thứ đến tủ điều khiển được chuyển thành tín hiệu số thông qua giao thức IEC-61850.

Trạm biến áp số có rất nhiều ưu điểm so với trạm biến áp truyền thống, điển hình như: diện tích lắp đặt nhỏ hơn, khối lượng cáp đồng kết nối giảm, diện tích phòng đo lường, điều khiển và bảo vệ nhỏ hơn, giảm thời gian bảo dưỡng, sửa chữa, tăng mức độ an toàn cho con người và thiết bị. Các máy cắt được tích hợp dao cách ly, dao nối đất và máy biến dòng điện quang tạo nên thành một máy cắt hợp bộ nên có cấu tạo gọn gàng, chiếm không gian lắp đặt nhỏ hơn, trong khi thời gian thi công, lắp đặt nhanh hơn nhiều so với các thiết bị độc lập được kết nối với nhau.

Bên cạnh đó, các thiết bị hợp bộ ít phải thường xuyên bảo dưỡng, sửa chữa và có độ tin cậy cao. Việc thay thế các cáp đồng kết nối giữa các thiết bị nhất thứ (máy cắt, dao cách ly, máy biến điện áp…) với các ngăn lộ đo lường, bảo vệ và điều khiển bằng cáp quang thông qua giao thức IEC-61850 giúp làm giảm sự kết nối phức tạp. Ở trạm biến áp số, các thiết bị nhất thứ và nhị thứ được kết nối bằng cáp quang. Do vậy, các mạch dòng, mạch áp trong các tủ điều khiển- bảo vệ không còn nên sẽ đảm bảo an toàn cho con người và các thiết bị hoạt động tin cậy hơn.
IoT - công cụ hữu hiệu để phát triển lưới điện thông minh

IoT - công cụ hữu hiệu để phát triển lưới điện thông minh

Công nghệ IoT (Internet of Things – Internet kết nối vạn vật) sẽ là một công cụ hữu ích để phát triển lưới điện thông minh. Công nghệ này đang được phát triển tại một số nước Đông Nam Á.

Cải thiện hiệu suất và khả năng vận hành
Hiện nay, công nghệ IoT đang là xu thế phát triển đối với các tập đoàn công nghệ trên thế giới. IoT cơ bản là sự kết nối của các thiết bị với internet, trong đó các thiết bị điện phải “giao tiếp” với nhau và “giao tiếp” với máy tính bảng cũng như với internet để tạo thành một hệ thống thông minh trao đổi dữ liệu, điều khiển lẫn nhau. IoT đang trở thành xu hướng công nghệ ảnh hưởng ngày càng lớn tới đời sống của cả thế giới và có ứng dụng vô cùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong tương lai, trong đó có ngành điện. Sự phát triển của IoT có thể cải thiện đáng kể hiệu suất và khả năng vận hành, triển khai của lưới điện thông minh. 

Về cơ bản, lưới điện thông minh là một mạng lưới phát điện, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện nhưng được áp dụng công nghệ thông tin, truyền thông, số hóa dữ liệu, áp dụng các công nghệ hiện đại vào việc điều khiển, kiểm tra, giám sát. Hệ thống cho phép trao đổi thông tin cũng như điện năng hai chiều theo thời gian thực giữa nhà cung cấp và khách hàng sử dụng điện. Nhìn chung lưới điện thông minh là hệ thống cung cấp năng lượng thông qua việc hợp nhất cơ sở hạ tầng điện với cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc. Do đó, lượng dữ liệu được thu thập và xử lý thành thông tin phục vụ công tác vận hành, điều khiển hệ thống điện cũng như được lưu trữ cho các mục đích khác nhau theo yêu cầu của các quy định trong quản lý, điều tiết hoạt động điện lực là rất lớn.

Đối với khách hàng sử dụng điện, IoT giúp cho việc truyền thông giữa các thiết bị cảm biến với các công tơ thông minh được liên tục, cho phép tự động điều khiển các thiết bị như điều hoà nhiệt độ, lò sưởi, hệ thống ánh sáng... một cách hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Đối với hệ thống điều khiển trạm biến áp, khả năng kết nối trực tiếp với thiết bị và trao đổi dữ liệu với các hệ thống quản lý cho phép phát hiện, xử lý mọi bất thường của hệ thống, giúp cho các công ty điện lực đạt được mục tiêu giảm tổn thất điện năng, giảm thiếu tối đa sự cố mất điện diện rộng mà không cần có sự can thiệp của con người.

Đặc biệt, lợi ích cốt lõi của IoT trong hệ thống lưới điện thông minh chính là khối lượng dữ liệu thu thập được bao gồm số liệu thời gian thực và số liệu quá khứ. Các dữ liệu này được thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau của hệ thống điện (hệ thống bảo vệ, điều khiển, công tơ thông minh, các bộ I/O, thiết bị đóng cắt...) tại các trạm biến áp, nhà máy, nhà ở của khách hàng và các thông tin liên quan khác như thời tiết... 

Các số liệu này sẽ được phân tích, xử lý và sử dụng cho công tác dự báo nhu cầu phụ tải điện từ dài hạn cho đến trung hạn nhằm phục vụ công tác lập kế hoạch cung cấp điện; hạn chế việc tiết giảm điện do thiếu nguồn thông qua cơ chế dịch chuyển phụ tải đỉnh trong giờ cao điểm hoặc trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra, IoT có thể thông báo kịp thời cho người sử dụng điện tại hộ gia đình, nhà máy sản xuất và các công ty điện lực về chất lượng điện, thiết bị, tình trạng cũng như vị trí hư hỏng, tình hình tiêu thụ điện năng.
Nhiều quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam ứng dụng công nghệ IoT để hiện đại hóa lưới điện, thử nghiệm công nghệ lưới điện thông minh và dần dần chuyển sang sử dụng năng lượng sạch.

Đông Nam Á – thị trường tăng trưởng mạnh
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, nhu cầu điện từ năm 2017 đến 2040 ở châu Á có thể tăng 60%. Theo ước tính của tập đoàn chuyên về hàng điện tiêu dùng và khí gas Northeast, các quốc gia trong khu vực có thể đầu tư tới 13,6 tỉ Đô la trong công nghệ lưới điện thông minh từ năm 2014 đến năm 2024 để đáp ứng nhu cầu tăng. Trong đó, Đông Nam Á là thị trường nhanh nhất trên thế giới chạm tới viễn cảnh công nghệ lưới điện thông minh.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất trong khu vực là Singapore. Hồi cuối tháng 10 năm 2017, Envision – công ty hàng đầu thế giới về nền tảng công nghệ IoT trong lĩnh vực năng lượng tái tạo công bố kế hoạch thiết lập một trung tâm số toàn cầu (Global Digital Hub) mới tại đảo quốc sư tử.

Trung tâm sẽ phát huy tối ưu EnOS – nền tảng năng lượng IoT của Envision để tăng tốc các đổi mới sáng tạo về năng lượng tái tạo và công nghệ IoT. EnOS có thể nâng cấp và mở nối kết các silo dữ liệu và các hệ thống cho phép triển khai internet vạn vật đối với năng lượng. EnOS hiện nay là nền tảng năng lượng IoT lớn nhất thế giới, có thể quản lý hơn 100GW các cơ sở năng lượng toàn cầu. Nó chuyên trách đa lĩnh vực kinh doanh bao gồm các hệ thống điện gió, điện mặt trời, các nhà máy nhiệt điện, các mạng lưới nạp nhiên liệu cho xe điện, bộ trữ điện, lưới thông minh, toà nhà thông minh, căn hộ thông minh, đô thị thông minh và trạm điện thông minh. Envision đang kiến tạo một hệ sinh thái năng lượng thông minh toàn cầu chạy trên nền tảng EnOS, thông qua cộng tác với các xí nghiệp dẫn đầu thế giới và đầu tư chiến lược vào các công ty.


Chgn Kai Fong, Giám đốc điều hành vụ Phát triển kinh tế Singapore cho biết: “Quyết định thành lập Global Digital Hub của Envision ở Singapore sẽ hỗ trợ tầm nhìn  của Singapore để trở thành trung tâm năng lượng sạch dẫn đầu châu Á. Đầu tư sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp ở Singapore, trong đó có cả các startup công nghệ năng lượng cùng với Envision làm chủ việc số hoá và phát triển các giải pháp đổi mới sáng tạo liên quan đến năng lượng tái tạo và các đô thị thông minh”.
Một số vấn đề về nguồn điện mặt trời nối lưới

Một số vấn đề về nguồn điện mặt trời nối lưới

Tóm tắt: Do tính không ổn định của bức xạ mặt trời nên các đặc trưng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) cũng luôn bị thay đổi. Điều này có thể gây ra các tác động tiêu cực cho hệ thống điện khi nối các nguồn điện mặt trời lên lưới. Tuy nhiên, với sự phát triển cao của khoa học công nghệ nên hiện nay các vấn đề tiêu cực này đã được giải quyết, nhờ vậy ĐMT đã không ngừng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới.



1. MỞ ĐẦU:
Nguồn ĐMT đề cập trong bài này là nguồn điện do các tấm pin mặt trời (PMT) hấp thụ năng lượng mặt trời (NLMT) và phát ra điện năng (nguồn quang điện, PV). Nguồn điện này đã được biết đến từ rất lâu. Nhưng chỉ mới trong khoảng vài thập niên trở lại đây nó mới trở nên thời sự và phát triển rất mạnh do các yêu cầu cấp bách về ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu và đặc biệt là do giá PMT giảm một cách rất kịch tính. Nếu như cách đây khoảng 10 năm, suất đầu tư hệ ĐMT vào khoảng 8.000-10.000 USD/kWp và giá điện mặt trời khoảng 20 - 25 UScents/kWh, thì hiện nay các giá trên giảm xuống tương ứng chỉ còn 1.000- 1.300 USD/kWp và 8-15 UScents/ kWh. Vì vậy, phát triển nguồn ĐMT để dần thay thế các nguồn điện hóa thạch đã trở thành một xu thế mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Trong giai đoạn từ 2010 đến 2015, tổng công suất lắp đặt ĐMT trên thế giới đã tăng 5,7 lần, từ 40 GWp năm 2010 lên 227 GWp năm 2015, với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 36,9% (xem hình dưới).


Công nghệ ĐMT phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay là công nghệ ĐMT nối lưới. Hình 2 là sơ đồ cấu trúc một hệ nguồn ĐMT nối lưới. Nguyên lý làm việc của hệ nguồn như sau.

Hàng ngày, khi có ánh sáng mặt trời chiếu vào dàn PMT, dàn pin sẽ phát ra điện năng của dòng điện một chiều DC. Qua Bộ biến đổi điện (BĐĐ) hay Inverter, dòng điện DC được biến đổi thành dòng điện xoay chiều AC có điện áp, tần số, pha… giống như các thông số tương ứng trên lưới điện. Dòng điện AC này có thể cấp trực tiếp cho các tải hoặc cũng có thể cấp lên lưới điện. Đối với các hệ ĐMT có công suất lớn (hàng chục, hàng trăm MW) thì hệ ĐMT thường được nối lưới điện truyền tải. Còn đối với các hệ ĐMT công suất nhỏ hơn (hàng chục kW đến một số MW) thì chúng thường được nối vào lưới điện khu vực hay lưới điện phân phối.

Dưới đây, chúng ta tập trung vào cấu hình hệ ĐMT nối vào lưới điện phân phối, trong đó hệ ĐMT có thể là hệ hộ gia đình, công suất dàn pin trong khoảng 3kWp đến 10kWp. Các hệ ĐMT sẽ được đấu nối vào lưới điện tại điểm đấu nối ở phía sau máy biến thế khu vực có công suất không quá lớn. Do đó tác động của hệ ĐMT sẽ trở thành những vấn đề rõ rệt hơn.

Hình 2- Sơ đồ nguyên lý cấu trúc hệ nguồn điện mặt trời nối lưới 

Các hệ ĐMT sẽ cấp điện trước hết cho các tải trong lưới phân phối. Có thể xảy ra 2 tình huống sau:

1. Trong các khoảng thời gian nắng tốt, như trong các ngày mùa hè, các nguồn ĐMT sẽ sản xuất điện với công suất lớn, các tải có thể sử dụng không hết. Số điện dư thừa sẽ được phát lên lưới.

2. Ngược lại, vào ban đêm hay các ngày không có hoặc nắng yếu, các hệ nguồn ĐMT sản xuất không đủ điện cho các tải. Khi đó lưới điện sẽ cấp điện bổ sung cho các tải tiêu thụ. Nhờ các công tơ điện M1 và M2 trên sơ đồ (hoặc có thể thay bằng công tơ điện 2 chiều) người ta có thể xác định chính xác lượng điện mà các hệ ĐMT phát/bán lên lưới cũng như lượng điện các tải lấy/mua từ lưới. Như vậy, ta thấy rằng, để hệ thống trên vận hành được thì cần phải có các điều kiện cần thiết sau đây:

- Các chủ đầu tư hệ ĐMT được quyền nối và tải điện lên lưới điện do một công ty lưới điện nào đó quản lý.
- Giữa chủ đầu tư hệ ĐMT và công ty lưới điện phải có hợp đồng mua bán điện dài hạn, trong đó giá mua và bán điện phải được ghi rõ ràng và được đảm bảo bởi pháp luật hiện hành.
- Về mặt kỹ thuật, các thông số đặc trưng của hệ ĐMT (như điện áp, tần số, pha, sóng hài…) phải phù hợp với các thông số tương ứng của lưới điện để khi nối hệ ĐMT vào lưới, toàn bộ hệ thống làm việc bình thường, không gây ra bất cứ can nhiễu hay sự cố nào ảnh hưởng đến chất lượng điện và dịch vụ cung cấp điện của công ty lưới điện.


2. NHỮNG VẤN ĐỀ KHI NỐI HỆ NGUỒN ĐMT VÀO LƯỚI
2.1. Đặc điểm của hệ nguồn ĐMT
Như ta biết, các hệ ĐMT có rất nhiều ưu việt như:

- “Nhiên liệu” của hệ ĐMT là ánh sáng mặt trời, là nguồn nhiên liệu tự nhiên, sạch và vô tận, có thể khai thác tự do. Nguồn nhiên liệu “lộ thiên” này có khắp mọi nơi trên bề mặt quả đất. Vì vậy, hệ nguồn ĐMT có thể xây dựng hầu như trên khắp các địa phương trên mặt đất.

- Hệ ĐMT hoạt động không gây ô nhiễm môi trường do không có tiếng ồn, không phát ra các chất thải độc hại (với hệ ĐMT nối lưới không dùng ắc quy). Ngoài ra, hệ hoạt động tin cậy, an toàn, chi phí vận hành, bảo trì, bảo dưỡng rất thấp.

Do các ưu việt trên nên nguồn ĐMT chính là một trong các nguồn năng lượng tái tạo có thể thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch. Nó sẽ là một nguồn năng lượng chính của nhân loại trong thế kỷ 21 và trong tương lai. Phát triển ĐMT vì vậy là một xu thế có tính tất yếu.

Tuy nhiên, nguồn ĐMT cũng có thể sinh ra một số vấn đề phải giải quyết khi nối chúng lên lưới điện. Các vấn đề này có nguồn gốc từ đặc tính không ổn định của nguồn ĐMT.

Như đã biết, ngay tại một vị trí xác định trên mặt đất, NLMT cũng luôn thay đổi theo thời gian trong ngày, thay đổi theo mùa và theo thời tiết như mưa, mây mù, nhiệt độ… Kết quả là công suất và điện năng cũng như các thông số điện đặc trưng của nguồn ĐMT cũng luôn bị thay đổi. Sự không ổn định này sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng điện và gây ra các tác động không mong muốn khác cho lưới điện như được chỉ ra dưới đây.

2.2. Các vấn đề khi nối các hệ ĐMT vào lưới điện
a. Quá điện áp và dưới điện áp
Như đã nói, khi cường độ NLMT thay đổi thì cả dòng điện và điện áp của hệ ĐMT đều thay đổi, trong đó sự thay đổi của dòng điện là nhạy và mạnh mẽ hơn. Vì vậy, khi có nắng to, điện áp các hệ ĐMT phát lên lưới có thể sẽ tăng, vượt quá giới hạn điện áp trên cho phép của lưới điện. Hiện tượng này gọi là quá điện áp. Ngược lại, khi không có nắng hoặc nắng yếu do một nguyên nhân nào đó như đám mây bay qua, cơn mưa đột ngột… điện áp các hệ ĐMT giảm và có thể gây ra sự giảm/sụt điện áp của lưới điện xuống dưới giá trị giới hạn điện áp cho phép. Hiện tượng này gọi là dưới điện áp. Sự tăng hay giảm điện áp ra ngoài giới hạn cho phép sẽ gây ra sự hoạt động không bình thường của các máy móc, thiết bị điện và có thể dẫn đến hư hỏng.

b. Sự mất cân bằng điện áp
Đó là hiện tượng biên độ điện áp của các pha trong hệ thống 3 pha không bằng nhau hoặc sự lệch pha không chính xác bằng 1200. Sự mất cân bằng pha xảy ra khi công suất của các hệ ĐMT nối lên các pha của lưới điện không cân bằng nhau. Nhưng cũng có thể do công suất và điện năng mà các nguồn ĐMT nối vào các pha phát ra khác nhau do thời tiết (ví dụ như cường độ NLMT) không như nhau trên các hệ ĐMT nối vào các pha. Sự mất cân bằng pha về điện áp có thể dẫn đến sự thay đổi về tần số dòng điện, tác động xấu đến hoạt động của các tải là động cơ và các thiết bị điện tử công suất như làm tăng nhiệt độ rotor, gây ra tiếng ồn, rung lắc… Nói riêng, các BĐĐ có chứa các thành phần nhạy với sự mất cân bằng pha điện áp làm cho nó hoạt động không ổn định.

c. Sóng hài
Sóng hài là các thành phần sóng có tần số là bội nguyên của tần số sóng điện cơ bản. Ví dụ, sóng điện công nghiệp có tần số sóng là 50Hz, thì các thành phần sóng có tần số 100, 150, 200Hz… là các sóng hài bậc 2, 3, 4… ứng với các bội số là 2, 3 và 4… Nguyên nhân gây ra sóng hài là do sự hoạt động của các thành phần điện tử có trong nguồn ĐMT như BĐĐ, các chuyển mạch điện tử điều khiển… và cũng có thể do các thiết bị trong hệ tải của nguồn ĐMT. Các sóng hài sẽ gây ra sự biến dạng của sóng điện cơ bản và dẫn đến sự hoạt động không bình thường của các thiết bị như giảm hiệu suất, phát nhiệt làm nóng thiết bị, thiết bị bị rung lắc, có tiếng ồn…

d. Sự cô lập không mong muốn
Sự cô lập không mong muốn là hiện tượng hệ nguồn ĐMT vẫn làm việc, tiếp tục cung cấp điện cho các tải khi mà mạng lưới bị cắt khỏi hệ ĐMT do một sự cố nào đó. Sự cô lập không mong muốn có thể gây ra các tai nạn về điện cho cho công nhân vận hành, bảo dưỡng hệ thống, làm hư hỏng thiết bị điện.

e. Sự thăng giáng tần số
Khi có sự cân bằng giữa điện năng phát ra và điện năng tiêu thụ thì tần số dòng điện sẽ ổn định. Tuy nhiên đối với các hệ ĐMT sự cân bằng này có thể bị phá vỡ do công suất phát của ĐMT phụ thuộc vào bức xạ mặt trời. Khi xảy ra sự mất cân bằng cung - cầu này sẽ có thể dẫn đến sự thăng giáng về tần số dòng điện, ảnh hưởng đến chất lượng điện, ảnh hưởng đến hoạt động và chất lượng sản phẩm của một số dây chuyền sản xuất công nghiệp. Điều này sẽ càng trầm trọng hơn nếu công suất ĐMT nối lên lưới càng lớn.

f. Nhiễu do thâm nhập dòng DC
Như đã biết, điện do các dàn PMT phát ra là dòng điện một chiều DC. Đối với đa số các BĐĐ hiện nay không dùng biến thế nên nếu không có thiết kế đặc biệt, dòng DC có thể thâm nhập qua BĐĐ, gây ra sự méo mó dạng sóng điện trên lưới dẫn đến sự hoạt động không bình thường của thiết bị tiêu thụ điện và có thể dẫn đến hư hỏng.

g. Tăng hệ số công suất điện dự phòng
Một trong các yếu tố gây ra sự đắt đỏ cho ĐMT là do cần phải bố trí nguồn điện năng dự phòng (không phải là ĐMT) với công suất khá lớn. Vì như đã biết, các hệ nguồn ĐMT chỉ làm việc khi có nắng và công suất cũng như điện năng phát của nó rất nhạy với cường độ bức xạ mặt trời. Vì vậy, để hệ thống điện hoạt động an toàn, liên tục cần có các nguồn điện dự phòng để phát điện bổ sung lên lưới trong các thời gian mà nguồn NLMT yếu hay không có (như ban đêm). 

Tùy theo dung lượng lưới điện, tỷ lệ công suất ĐMT và công suất máy biến thế của lưới phân phối, mà công suất dự phòng có thể chiếm tỷ lệ từ 5% đến trên 20%. Ngoài ra, một yêu cầu quan trọng khác là các nguồn dự phòng cần phải có thời gian đáp ứng đủ nhanh, nếu không mạng điện có thể bị sự cố “sập” ngẫu nhiên.
Những thách thức khi đấu nối nhà máy điện gió vào hệ thống điện

Những thách thức khi đấu nối nhà máy điện gió vào hệ thống điện

Các nguồn năng lượng tái tạo trong đó có nguồn điện gió đang phát triển rất mạnh mẽ, ngày càng có nhiều nhà máy điện gió công suất lớn được đấu nối vào hệ thống điện. Việc đấu nối đặt ra một số thách thức trong vận hành, điều khiển ổn định hệ thống và đảm bảo chất lượng điện năng.

Công nghệ tua bin gió đã phát triển ổn định trong 25 năm qua với sự tồn tại hiện nay là 4-5 thế hệ. Công suất khả dụng của tua bin gió phụ thuộc tốc độ gió và việc điều khiển để hạn chế công suất khi tốc độ gió lớn để tránh cho tua bin gió bị phá hủy là điều hết sức quan trọng. Về nguyên tắc có thể thiết kế một tua bin gió có khả năng tiếp nhận tất cả các mức tốc độ gió, song trọng lượng của nó sẽ rất lớn và điều đó dẫn chi phí đầu tư lớn mà lượng điện tăng thêm đến không thể bù đắp nổi chi phí này, vì xác suất tốc độ gió cao là rất nhỏ.

Khi đấu nối trực tiêp tua bin gió vào HTĐ sẽ xuất hiện dòng quá độ gây ra nhiễu loạn cho lưới điện và làm tăng cao mô men xoắn cho hệ thống truyền động. Dòng điện quá độ này hạn chế số tổ tua bin gió đấu nối vào HTĐ. Để khắc phục tình trạng này, người ta lắp vào các máy phát điện gió hiện đại bộ hạn chế dòng điện hoặc bộ khởi động êm trên cơ sở công nghệ bán dẫn thyristors để hạn chế dòng điện quá độ ở mức thấp hơn hai lần dòng định mức của máy phát. Bộ thiết bị này cản dịu hiệu quả mô men xoắn đỉnh của máy phát và giảm tải cho bộ truyền động. 

Trong quá trình vận hành bình thường, thiết bị này được nối tắt tự động bởi công tắc ngắn mạch để giảm tổn thất công suất trong các linh kiện bán dẫn và giảm công suất nhiệt của thiết bị cản dịu. Một tua bin gió hiện đại thường được trang bị một máy biến thế nâng từ điện áp máy phát thường dưới 1kV lên đến khoảng 20 hoặc 30KV để đấu nối vào lưới điện. Việc đấu nối vào lưới điện gồm hai phần là đấu nối tại chỗ giữa các tua bin bên trong NMĐG lại với nhau ở cấp trung thế và đấu nối NMĐG vào lưới điện. Trong trường hợp nhà máy điện có công suất lớn và ở cách xa hệ thống điện thì cần lắp đặt các máy biến thế nâng từ cấp trung thế lên cao thế rồi đấu vào đường dây cao thế truyền tải công suất của NMĐG vào HTĐ.



I. Tác động của NMĐG đến chất lượng điện của HTĐ.
a) Biến thiên điện áp: 
Ở mức độ cục bộ, biến thiên điện áp chủ yếu là vấn đề liên quan tới máy phát điện gió. Đây có thể là yếu tố hạn chế số lương tua bin gió có thể được lắp đặt. Trong điều kiện vận hành bình thường, chất lượng điện áp của một hay một cụm máy phát điện gió có thể được đánh giá bởi các thong số sau đây: 
- Điện áp ổn định trong trạng thái sản xuất điện liên tục.
- Điện áp thăng giáng:
+ Thăng giáng trong khi vận hành
+ Thăng giáng do đóng cắt

b) Điện áp trạng thái ổn định:
Điện áp tại điểm đấu nối máy phát điện gió phải được duy trì trong giới hạn điều chỉnh của công ty điện lực. Việc vận hành máy phát điện gió có thể ảnh hưởng đến điện áp trong lưới điện mà nó đấu vào. Vì vậy, trong trường hợp cần thiết cần phải thực hiện các giải pháp thích hợp để bảo đảm rằng tua bin gió không làm cho biên độ điện áp vượt ra ngoài giới hạn yêu cầu.

c) Thăng giáng điện áp: 
Thăng giáng điện áp có thể gây ra tia sáng chập chờn (light flicker) tùy thuộc vào biên độ và tần số của dao động. Có hai loại chập chờn điện áp liên quan tới tua bin gió đó là chập chờn trong vận hành liên tục và chập chờn do đóng cắt tua bin và tụ bù. Giới hạn cho phép của chập chờn thường do các công ty điện lực tự quy định. Để ngăn ngừa phát sinh chập chờn điện áp từ sự suy giảm chất lượng điện áp, các đơn vị phát điện không nên gây ra nhấp nháy điện áp quá mức.

d) Sóng hài: 
Nhiễu sóng hài là một hiện tượng liên quan đến sự méo song hình sin cơ bản và phát sinh do đặc tính phi tuyến của các thiết bị điện. Sóng hài làm tăng dòng điện, tăng tổn thất và có khả năng làm cháy thiết bị cũng như gây ảnh hưởng xấu tới mạng thông tin. Trong các tua bin gió hiện đại đều được trang bị các thiết bị lọc sóng hài đến giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn.

II. Các yêu cầu đối với việc đấu nối NMĐG vào HTĐ
Một số yêu cấu thiết yếu đối với việc đấu nối NMĐG công suất lớn vào HTĐ: 
- Công suất tác dụng (P) được điều chỉnh tuyến tính với biến thiên tần số (f) giữa một giải nhất định (47 Hz – 52 Hz) với một giải liệt (49,85 Hz – 50,15 Hz) và tốc độ điều chỉnh là 10% công suất định mức trong 1 giây,

- Công suất phản kháng (Q) cần được điều chỉnh trong một giải khống chế ở mức tối đa 10% công suất định mức (hấp thụ ở mức zero công suất tác dụng và phát ra ở mức công suất tác dụng định mức),

- Tua bin gió thong thường được vận hành trong các điều kiện bình thường (điện áp 95 - 105% định mức và tần số 49 – 51 Hz). Tuy nhiên, nó cũng có khả năng làm việc bên ngoài các điều kiện trên trong một thời hạn nhất định,

- Trong trường hợp HTĐ bị sự cố, tua bin gió trải qua một sự biến thiên điện áp. Mức độ nghiêm trọng thời gian diễn biến của sự kiện này sẽ xác định liệu tua bin gió không bị tách ra hoặc có thể bị tách ra hay phải tách ra khỏi lưới hay không.

- Tua bin gió cũng phải có khả năng chịu đựng nhiều hơn một sự cố độc lập xảy ra trong ít phút. Ngoài ra, còn có một số yêu cầu lien quan tới các hiện tượng như điện áp biến đổi nhanh, chập chờn, sóng hài…
Ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để nâng cao hiệu quả công tác quản lý kỹ thuật

Ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để nâng cao hiệu quả công tác quản lý kỹ thuật

Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) – đơn vị thuộc Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) đã chủ động ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), khai thác nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh vào công tác quản lý, vận hành tại đơn vị.

CMCN 4.0 với sự phát triển mạnh mẽ và diệu kỳ của công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc nhiều mặt của nền sản xuất và đời sống xã hội. Ích lợi mà CMCN 4.0 mang lại vô cùng lớn. Hiện các cấp chính quyền, các ngành nghề, cơ quan trong cả nước ta đang ứng dụng mạnh mẽ CMCN 4.0 vào mọi mặt hoạt động của mình.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về công tác quản lý, vận hành lưới truyền tải điện cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, PTC3 đã chủ động ứng dụng CMCN 4.0, khai thác nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh vào công tác quản lý, vận hành tại đơn vị.

Yếu tố con người là then chốt
Xác định yếu tố con người là khâu then chốt nên PTC3 đã tập trung vào công tác đào tạo và tự đào tạo nguồn nhân lực, ưu tiên đào tạo nâng cao những cán bộ công nhân viên có trình độ năng lực tốt. Hình thành nhóm kỹ sư có trình độ cao tại phòng Kỹ thuật công ty để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý vận hành với nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của khoa học, kỹ thuật vào trong công tác quản lý vận hành đường dây. Ngoài việc tập trung nghiên cứu ứng dụng thiết bị để thu thập dữ liệu, hình ảnh còn phải nghiên cứu để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc phân tích dữ liệu lớn (big data).

Thực hiện các chương trình đào tạo bằng đại học thứ 2 về công nghệ thông tin và tiếng Anh đối với lực lượng đang làm công tác trực ban vận hành, trạm biến áp và tổ thao tác lưu động. Đối với lực lượng quản lý vận hành đường dây còn được đào tạo thêm về tin học văn phòng (Autocad, Ms Office…), đào tạo về sử dụng và khai thác các trang thiết bị hiện đại (UAV, robot, rađa vẽ bản đồ…) để thực hiện công tác kiểm tra, giám sát đường dây. Triển khai xây dựng các hiện trường huấn luyện, đào tạo lực lượng quản lý vận hành trạm biến áp, quản lý vận hành và sửa chữa đường dây. Trang bị các thiết bị, dụng cụ, phương tiện: lắp đặt đầy đủ các bộ định vị sự cố trên các đường dây, máy soi phát nhiệt, hệ thống camera giám sát, các thiết bị bay không người lái (UAV)…


Sử dụng UAV và Flycam để kiểm tra thiết bị trên đường dây.

Ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành 
Hiện nay PTC3 tập trung đẩy mạnh thực hiện các nhóm chính như sau: Internet; công nghệ điện toán đám mây; công nghệ truyền dẫn tốc độ cao; không gian mạng; số hóa và tiến tới xây dựng nguồn dữ liệu lớn (Big data) và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 

Các ứng dụng miễn phí có sẵn của Google như Google Sheet được khai thác để sử dụng cho việc nhập số liệu, đồng bộ hóa dữ liệu giữa các thiết bị điện tử thông minh (smart phone, máy tính bảng, Ipad...) với các máy tính lưu số liệu, quản lý, đánh giá số liệu thiết bị, cho phép phân quyền (nhập, xem, quản lý) cập nhật số liệu tại các tổ, đội đường dây, trạm biến áp hoặc trung tâm vận hành, phòng kỹ thuật của đơn vị và lãnh đạo đơn vị.
Vận hành lưới truyền tải điện khi có nhiều nguồn năng lượng tái tạo nối lưới

Vận hành lưới truyền tải điện khi có nhiều nguồn năng lượng tái tạo nối lưới

Tại Hà Nội, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) mới đây đã phối hợp với Đại sứ quán Anh tại Việt Nam tổ chức hội thảo “Vận hành lưới truyền tải điện khi có nhiều nguồn năng lượng tái tạo nối lưới”.

Tại hội thảo, ông David McNaught, Tham tán Chính trị Đại sứ quán Anh tại Việt Nam cho biết: Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong những năm gần đây Việt Nam đang tích cực giảm tác động biến đổi khí hậu. Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có đưa ra lộ trình phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) bền vững.

Chính phủ Anh cũng xác định ưu tiên hàng đầu trong phát triển NLTT do vậy Chính phủ Anh cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi sang NLTT theo đúng chiến lược và đường lối của Đảng.
Chính phủ Anh hoan nghênh kế hoạch của Việt Nam hướng tới trong việc dự báo tin cậy sản hạn chế phát triển điện than cho giai đoạn 2026 - 2030 và tăng cường sử dụng NLTT trong kế hoạch phát triển điện lực sắp tới.

Ông Nguyễn Tuấn Tùng, Chủ tịch HĐTV EVNNPT chia sẻ: Những năm gần đây, việc đẩy mạnh sử
dụng nguồn điện NLTT đã trở thành xu hướng toàn cầu. Chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách và biện pháp thúc đẩy phát triển điện NLTT (mặt trời, gió). Tính đến tháng 10/2020, đã có 6.434MW được đưa vào vận hành (108 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất 5.948MW và 13 nhà máy điện gió với tổng công suất 486MW). Sản lượng điện phát của các nhà máy điện NLTT năm 2019 đạt 5,5 tỷ kWh (chiếm 2,3% sản lượng điện toàn hệ thống) đã góp phần bổ sung thêm nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia trong bối cảnh hệ thống bị thiếu nguồn cấp, đặc biệt giảm được sản lượng huy
động từ các nguồn điện chạy dầu có giá thành rất cao.



Lưới truyền tải điện 500kV, 220kV do EVNNPT quản lý vận hành vẫn luôn đảm bảo vận hành an toàn, ổn định và giải tỏa hết công suất các nguồn điện NLTT được đấu nối trực tiếp vào lưới điện 220kV cũng như công suất của các nguồn điện NLTT được truyền tải từ lưới 110kV lên lưới 220kV và 500kV qua các TBA và đường dây 220kV, 500kV của EVNNPT.

Thời gian tới, sản lượng điện NLTT hòa lưới sẽ tiếp tục tăng mạnh. Dự kiến, lũy kế đến cuối năm 2020 sẽ có khoảng 7.400MW điện mặt trời và 600MW điện gió; tới cuối năm 2021 sẽ có khoảng 10.400MW
điện mặt trời và 3.400MW điện gió phát lên hệ thống điện quốc gia. Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề cho lưới truyền tải điện như: mất cân bằng phân bố nguồn và tải, cân bằng công suất, dao động công suất, dao động tần số, sóng hài gia tăng...

Để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu nối lưới của các nguồn NLTT, EVNNPT sẽ phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cũng như nghiên cứu, tiếp cận những công nghệ mới, hiện đại, học hỏi kinh nghiệm thực tế từ các nước tiên tiến như Anh quốc để đảm bảo giải tỏa hết công suất các nguồn điện NLTT theo yêu cầu.
Dự báo năng lượng tái tạo biến đổi VRE (Variable Renewable Energy)

Dự báo năng lượng tái tạo biến đổi VRE (Variable Renewable Energy)

Mô tả công nghệ
Với tỷ trọng VRE trên 10%, các hệ thống dự báo điện mặt trời và sản xuất điện gió trở nên quan trọng đối với hoạt động của hệ thống điện. Thông tin về lượng điện tái tạo phát lên lưới trước thời điểm (bao gồm cả phân phối không gian của điện tái tạo) hỗ trợ điều độ hiệu quả về mặt kinh tế của nhà máy điện truyền thống cũng như quản lý tắc nghẽn lưới điện.

Dự báo thường dao động từ vài phút đến tối đa 48 giờ và dựa trên sự kết hợp có trọng số của nhiều mô hình thời tiết. Các mô hình toán học này sử dụng dữ liệu thời tiết hiện tại và do đó đòi hỏi mạng lưới cảm biến rộng và đôi khi là các tài nguyên tính toán quan trọng.

Độ chính xác dự báo nhìn chung được cải thiện với khoảng cách ngắn hơn đến thời gian thực và, do hiệu ứng làm mịn với độ lan truyền địa lý lớn hơn. Ở cấp quốc gia, sai số dự báo trung bình (được đo bằng căn bậc hai sai số bình phương trung bình hoặc RMSE) cho các dự báo ngày tới thường ở mức 5%.

Ví dụ, ở Đức, sự không chắc chắn của dự báo năng lượng gió trên toàn quốc là khoảng 2-3% RMSE công suất lắp đặt, trong khi đó phạm vi dao động là từ 10% đến 30% cho các nhà máy điện gió đơn lẻ.

Dự báo VRE có thể được sử dụng thêm trong các lĩnh vực công nghệ lưới điện thông minh khác: Đối với việc giám sát giới hạn truyền tải của đường dây (xem tại đây), công suất đường dây có thể được tính dựa trên các tình huống thời tiết dự báo. Đối với hệ thống đánh giá an ninh động trực tuyến (xem tại đây) trạng thái mạng dự kiến có thể được tính toán để xác định giới hạn an ninh hệ thống.

Ngoài ra, dự báo VRE còn đóng vai trò thiết yếu trong việc lập lịch trình điều độ các nhà máy điện trong Nhà máy điện ảo VPPs (xem tại đây).

Lợi ích và tác động
Do sự không chắc chắn trong sản lượng điện gió và mặt trời, hệ thống dự báo tốt là nhân tố quan trọng để tối ưu hóa vận hành hệ thống điện và điều độ phát điện. Đặc biệt trong các hệ thống với tỷ trọng VRE cao hơn, dự báo VRE được chứng minh là mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho hệ thống. Các sự kiện cụ thể như hoạt động bão, khi đó nhiều nhà máy điện gió có thể đạt tốc độ ngưỡng ngừng phát điện, có thể được dự báo hiệu quả thông qua các biện pháp dự báo tăng giảm công suất phát và thực hiện các biện pháp giảm thiểu trước đó, nhờ vậy tăng cường an ninh hệ thống.

Thách thức và hạn chế
Cơ sở dữ liệu chính xác về các nhà máy điện mặt trời và năng lượng gió liên quan đến vị trí, quy mô và các thông số kỹ thuật của các tuabin gió/tấm pin mặt trời cần được thiết lập và duy trì để đảm bảo độ chính xác dự báo. Việc đưa ra quy định bắt buộc thu thập thông tin tập trung này trong các quy định về lưới điện truyền tải là rất hữu ích. Cần thiết lập kế hoạch đăng ký nói trên sớm, để không cần thu thập dữ liệu hồi tố khi công suất phát điện tái tạo chiếm tỷ lệ đáng kể. Các dịch vụ dự báo thường
được các nhà cung cấp dịch vụ chuyên biệt cung cấp cho các nhà khai thác hệ thống.

Kinh nghiệm quốc tế
Ở châu Âu, dự báo VRE được sử dụng để tối ưu hóa danh mục đầu tư phát điện của các công ty dịch vụ cho thị trường ngày tới và trong ngày.
Ví dụ, ở Đức, những người tham gia thị trường bị phạt vì sai lệch sản lượng điện được cung cấp. Danh mục đầu tư VRE lớn hơn làm giảm những sai lệch này, thúc đẩy việc triển khai Nhà máy điện ảo VPPs. Các nhà khai thác hệ thống châu Âu sử dụng dự báo VRE để tính toán Dự báo tắc nghẽn ngày trước.

Dự báo này tính toán tắc nghẽn dự kiến trên các khu vực giao dịch và các đơn vị vận hành hệ thống truyền tải (TSO) sử dụng các kết quả dự báo đó để lên kế hoạch các biện pháp điều độ lại và cắt giảm công suất phát. Dự báo khu vực trên các quy mô khác nhau cũng được tính toán cho phân tích an ninh và thông tin lưới điện. Ví dụ, DSO Avacon của Đức sử dụng dự báo VRE khu vực kết hợp với tính toán trào lưu công suất để xác định tắc nghẽn lưới cục bộ và giảm tối đa việc cắt giảm công suất phát VRE.

Đánh giá

Xu hướng lưới điện thông minh, tiềm năng ứng dụng trong Hệ thống điện Việt Nam

Xu hướng lưới điện thông minh, tiềm năng ứng dụng trong Hệ thống điện Việt Nam

1. Những thách thức tích hợp VRE
Các công nghệ Lưới điện thông minh được coi là một yếu tố quyết định chính để tăng hiệu quả trong hệ thống điện và tạo điều kiện hấp thụ năng lượng tái tạo biến đổi (VRE - Variable Renewable Energy) vào hệ thống điện. Tính chất biến động và quy mô nhà máy phát điện NLTT nhỏ hơn so với các nhà máy phát điện truyền thống quy mô lớn đặt ra nhiều thách thức đối với việc lập quy hoạch và vận hành lưới điện trong tương lai. Phần này trình bày những thách thức lớn mà một số công nghệ Lưới thông minh đang đặt mục tiêu giải quyết.

Những thách thức liên quan đến tích hợp năng lượng tái tạo biến đổi (VRE) tương quan với tỷ trọng năng lượng tái tạo (NLTT) mục tiêu và do đó thay đổi trong quá trình chuyển đổi sang tỷ trọng phát điện NLTT ngày một cao hơn. Mặc dù có thể phát sinh một số vấn đề ngay từ khi bắt đầu triển khai VRE với tác động cục bộ hạn chế, nhưng sau đó có thể phát sinh những thách thức khác khi mà NLTT chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu phát điện.

Quá trình chuyển đổi dần dần này đã được Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA - International Energy Agency) chia thành bốn giai đoạn tích hợp VRE tương ứng [1]. Xuyên suốt bốn giai đoạn này, việc triển khai VRE chuyển từ không đáng chú ý (giai đoạn 1) sang đáng chú ý nhưng dễ dàng điều chỉnh (giai đoạn 2), sau đó sang tác động đáng kể đến hoạt động của hệ thống điện và nhu cầu vận hành linh hoạt hơn (giai đoạn 3) và đến giai đoạn cuối, theo đó sự ổn định hệ thống cũng trở thành một vấn đề lớn (giai đoạn 4).

Khi bắt đầu hấp thụ VRE có thể phát sinh các vấn đề cục bộ đặc biệt do các nhà máy VRE thường được lắp đặt với số lượng lớn đến một số địa điểm tập trung, do đó làm quá tải hạ tầng hệ thống điện khu vực và có khả năng gây ra sự cố điện áp. Những vấn đề như vậy có thể được giải quyết cục bộ bằng cách thực hiện nâng cấp lưới điện để kết nối chính xác các nhà máy điện VRE dự kiến.

Gần đây khi VRE chiếm tỷ trọng đáng kể trong hoạt động của hệ thống, cần thiết lập các hệ thống
dự báo để ước tính chính xác lượng năng lượng mặt trời và năng lượng gió dự kiến trong vài giờ và ngày tới. Về điểm này, các quy trình điều độ sẽ phải được cập nhật để phù hợp với những thay
đổi về sản lượng điện VRE. Hơn nữa, các tính toán dự trữ nên được tối ưu hóa có xét đến tác động của VRE đối với sự mất cân bằng giữa công suất phát và nhu cầu điện, phản ánh các sự cố tiềm ẩn như sự sụt giảm nhanh chóng sản lượng điện mặt trời hoặc điện gió trong các cơn bão lớn.

Tổng quan Hệ thống điện của Việt Nam (2020)

Tổng quan Hệ thống điện của Việt Nam (2020)

Hệ thống điện Việt Nam
Hệ thống điện Việt Nam là một hệ thống độc đáo gồm ba hệ thống con (hệ thống miền Bắc, miền Trung và miền Nam) được kết nối bằng hệ thống trục chính 500kV.
Mạng lưới truyền tải: 500kV, 220 kV thuộc sở hữu của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT - National Power Transmission Corporation)
Mạng lưới phân phối thuộc sở hữu của Năm Tập đoàn điện lực(PCs)*:
o Cao áp: 110kV
o Trung áp: 35kV, 22kV
o Hạ áp: 0.4kV, 220V

* Năm Tập đoàn điện lực(PCs) bao gồm:
o Tổng công ty điện lực miền Bắc (EVNNPC)
o Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVNHanoi)
o Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC)
o Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC)
o Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh (HCMPC)

Sơ đồ hệ thống điện chia thành 3 miền Bắc, Trung, Nam theo Quy hoạch điện VII - QHĐ VII
Sơ đồ hệ thống điện chia thành 6 vùng theo Quy hoạch điện VIII - QHĐ VIII (năm 2020)

Phụ tải

- Mẫu đường cong phụ tải ngày:
Vận hành hệ thống điện Việt Nam trong năm 2018
Nguồn: Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (NLDC - National Load Dispatch Center)

- Sản lượng (MWh):
Trong năm 2018, tổng sản lượng phát điện là 220,31 tỷ Kwh, tăng 11,09% so với năm 2017.

- Phụ tải cao điểm (MW):
Trong năm 2018, phụ tải cao điểm là 35126 MW, tăng 13,6% so với năm 2017.

Phát điện
- Công suất lắp đặt (MW):
Vào cuối năm 2018, tổng công suất lắp đặt là 48838 MW, tăng 7,55% so với năm 2017.

- Sản lượng phát điện (MWh):

Hệ thống truyền tải và phân phối
Tại Việt Nam, có bốn công ty điện lực truyền tải (PTC - transmission power companies) thuộc Tổng công ty Truyền tải Quốc gia (NPT - National Power Transmission Corporation) sở hữu và vận hành hệ thống truyền tải (500kV và 220kV). Năm tập đoàn phân phối điện (PC - distribution power corporations) sở hữu và vận hành hệ thống phân phối (110kV, mạng trung thế và hạ thế). Các chi tiết của hệ thống truyền tải và phân phối như sau:

Phát triển Năng lượng tái tạo và các thách thức tại Việt Nam

Phát triển Năng lượng tái tạo và các thách thức tại Việt Nam

1. Phát triển Năng lượng tái tạo (NLTT)
Việc sử dụng tiềm năng và hiện tại của NLTT tại Việt Nam như sau:
Nguồn: Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia 
(NLDC - National Load Dispatch Center)

Vào năm 2019, điện mặt trời phát triển bùng nổ, vào cuối tháng 6, có hơn 100 nhà máy điện mặt trời
mới có công suất khoảng 4430 MW. Công suất này lớn hơn nhiều so với quy hoạch tổng thể là 800 MW vào năm 2020. Vì vậy, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức như được trình bày trong phần tiếp theo.
Nguồn: Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (NLDC - National Load Dispatch Center)

2. Thách thức
• Tắc nghẽn: Có nhiều điểm tắc nghẽn tại hai tỉnh nóng là Ninh Thuận và Bình Thuận. Tắc nghẽn
trong cả mạng lưới phân phối (110kV) và mạng truyền tải (220kV). EVN đang yêu cầu các công
ty con của họ là Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT - National Power Transmission Corporation) và Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC - Vietnam Electricity Southern Power Corporation) sớm xây dựng mạng lưới mới nhưng sẽ mất 3-5 năm.

• Dao động công suất nguồn NLTT: Hiện tại, công suất NLTT xấp xỉ 10% trên toàn hệ thống, dao
động công suất NLTT tác động quá nhiều đến sự ổn định của hệ thống điện.

• Kiểm soát tần số
o Hiện nay, tính linh hoạt vận hành tốt nhờ tỷ lệ cao các nhà máy thủy điện
o Trong tương lai, sẽ có vấn đề lớn với kiểm soát tần số vì:
▪ Tỷ lệ thủy điện sẽ giảm dần
▪ Nhiệt than sẽ thống trị hỗn hợp phát điện
▪ Tỷ lệ năng lượng tái tạo sẽ tăng lên

• Nhu cầu đối với công suất dự trữ: Trước đây, tỷ lệ NLTT rất nhỏ, phần lớn phát điện là nhà máy
điện thông thường, công suất dự trữ bằng với máy phát lớn nhất nhưng hiện nay, công suất dự trữ
cần nhiều hơn thế do dao động điện NLTT biến đổi.

• Độ tin cậy của hệ thống: Với hệ số công suất nhỏ hơn hoặc bằng 20%, các nhà máy điện mặt trời
được coi là đóng góp công suất cho hệ thống, không chỉ năng lượng.

• Chất lượng điện năng (Điện áp, Sóng hài): Với độ thâm nhập cao của NLTT, Việt Nam sẽ cần
giải pháp lưới điện thông minh để đảm bảo chất lượng điện cho vận hành hệ thống

Sạc Xe điện Thông minh - Smart Charging of Electric Vehicles

Sạc Xe điện Thông minh - Smart Charging of Electric Vehicles

Mô tả công nghệ
Xe điện (EV - Electric Vehicles) là một công nghệ đầy hứa hẹn để giảm thiểu cacbon cho ngành vận tải, và các diễn biến gần đây của công nghệ và chi phí đã khiến doanh vụ xe điện gia tăng mạnh mẽ ở các quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Na Uy hoặc Hà Lan. Sạc xe điện làm tăng nhu cầu trong các
lưới điện phân phối trong thời gian nhất định.

Việc sạc không kiểm soát được các đoàn xe điện lớn có thể làm quá tải các tài sản phân phối cục bộ hoặc dẫn đến các sự cố về điện áp. Mặt khác, việc sạc phối hợp xe điện phụ thuộc vào tính khả dụng của năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi có thể có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp đáng kể giữa hai công nghệ. Chiến lược sạc thông minh khai thác tiềm năng này bằng cách gửi tín hiệu giá hoặc tín hiệu điều khiển trực tiếp đến các trạm sạc xe điện.

Lợi ích và ảnh hưởng
Cơ sở hạ tầng sạc thông minh sẽ không chỉ làm giảm các vấn đề tắc nghẽn do sạc xe điện trong lưới điện phân phối, mà còn có thể cho phép tăng cường tỷ trọng NLTT biến đổi bằng cách sạc chủ yếu khi có điện mặt trời hoặc điện gió.

Trong thời gian nguồn cấp điện mặt trời và điện gió thấp, thậm chí có thể cấp điện lại từ pin của xe điện vào lưới điện (từ xe đến lưới điện). Giảm bớt đầu tư vào cơ sở hạ tầng lưới điện phân phối cũng như nhu cầu phát điện dự phòng, trong khi có thể tăng phần NLTT biến đổi lên. Khách hàng được hưởng lợi từ giá điện giảm cho việc sạc xe điện nếu họ đồng ý với sự kiểm soát hạn chế xe điện.

Bộ lưu trữ năng lượng phân tán (Distributed energy storage) và Pin điện (electric batteries)

Bộ lưu trữ năng lượng phân tán (Distributed energy storage) và Pin điện (electric batteries)

Mô tả công nghệ
Trong những năm gần đây, không chỉ chi phí sản xuất quang điện và điện gió giảm nhiều, mà cả chi phí bộ lưu trữ năng lượng phân tán như pin cũng giảm mạnh. Bộ lưu trữ năng lượng phân tán thường được cài đặt ở cấp độ dân cư.

Có thể xem xét các công nghệ khác nhau cho các ứng dụng khác nhau: Ví dụ: đối với lưu trữ ngắn hạn pin lithi-ion và axit chì được sử dụng. Pin sạc dòng thực hiện lưu trữ cho các ứng dụng lưu trữ trung hạn, trong khi các loại lưu trữ nhiệt thường được sử dụng để lưu trữ dài hạn. Đặc biệt, pin lithi-ion đã giảm chi phí đáng kể trong thời gian gần đây và do đó là lựa chọn chủ yếu cho các hệ thống pin dân dụng kết hợp với quang điện và xe điện.

Pin điện tử công suất nâng cấp (xem thêm trong phần bộ biến tần thông minh.) có thể được tích hợp vào các hệ thống Tự động hóa lưới điện phân phối, điều chỉnh phụ tải điện hoặc nhà máy điện ảo (xem thêm ở đây).


Lợi ích và ảnh hưởng
Kiểm soát pin thông minh, được thi hành hoặc khuyến khích thông qua các cơ chế điều tiết và thị trường, cho phép các ứng dụng và lợi thế sau:

• Điều tiết tần số lưới điện và điện áp (ổn định lưới điện và kiểm soát chất lượng điện).
• Làm trơn độ biến đổi năng lượng tái tạo (NLTT) (kiểm soát tỷ lệ biến đổi).
• Kinh doanh năng lượng quy mô nhỏ (đặc biệt là lưu trữ nhiệt).
• Cắt giảm nhu cầu trong giờ cao điểm phụ tải ngắn hạn.
• Cắt giảm nhu cầu trong giờ cao điểm NLTT ngắn hạn.
• Nguồn dự phòng: cô lập lưới điện siêu nhỏ ngắn hạn và cung cấp phụ tải trong thời gian ngắn sau khi cô lập trước khi phát điện phân phối xuất hiện trực tuyến.
• Cải thiện việc sử dụng tài sản của hệ thống phân phối và trì hoãn nâng cấp hệ thống phân phối.

Pin có thể được triển khai nhanh chóng và theo mô-đun và có thể dễ dàng di chuyển nếu cần thiết.

Nhà máy điện ảo (VPPs - Virtual Power Plants)

Nhà máy điện ảo (VPPs - Virtual Power Plants)

Mô tả công nghệ
Nhà máy điện ảo (VPP) là một mạng lưới các đơn vị phát điện quy mô trung bình, phi tập trung chẳng hạn như nhà máy điện gió, công viên năng lượng mặt trời và các đơn vị điện nhiệt kết hợp (CHP - Combined Heat and Power), cũng như hệ thống lưu trữ và tiêu thụ điện năng linh hoạt. Bằng cách tổng hợp các nguồn năng lượng phân tán dưới sự kiểm soát trung tâm, có thể xác định và kiểm soát sản lượng điện chính xác hơn, và có thể tham gia vào các loại thị trường điện khác.

Điều này đặc biệt hữu ích nếu các nhà máy điện năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi được tích hợp vào nhà máy điện ảo, vì tính chất ngẫu nhiên và không chắc chắn khiến chúng khó dự đoán đối với người vận hành hệ thống. Do đó, việc tích hợp một số lượng đáng kể các nhà máy điện NLTT biến đổi giúp giảm tính không chắc chắn do hiệu ứng làm mịn và kết hợp với nguồn năng lượng phân tán khác cho phép làm mịn hơn và tăng tính linh hoạt. Điều này cải thiện khả năng giao dịch hoặc bán điện trên thị trường điện của người vận hành nhà máy điện ảo, và cho phép cung cấp các dịch vụ phụ trợ, ví dụ: cung cấp nguồn dự trữ sau đó được cung cấp từ đầu ra kết hợp của nhà máy điện ảo thay vì từ một nhà máy duy nhất.

Trong những năm gần đây, các nhà máy điện ảo đã mở rộng sang các nhà máy điện nhỏ hơn cũng như các kiểu tiêu dùng mới như xe điện, do tăng khả năng kiểm soát và liên lạc của các nguồn năng lượng phân tán.

Lợi ích và ảnh hưởng
Đối với đơn vị vận hành nhà máy điện ảo, việc kết hợp nhiều nhà máy điện NLTT biến đổi và phi NLTT biến đổi thành một nhà máy điện duy nhất giúp cải thiện hoạt động của mình trên thị trường điện. Họ có thể phản ứng dễ dàng hơn với giá cả trên thị trường và, có thể dự báo chính xác lịch trình phát điện của mình, họ giảm chi phí phạt do mất cân bằng giữa năng lượng được giao dịch và năng lượng được cung cấp thực tế. Ngoài ra, nó cho phép họ đấu thầu vào thị trường dịch vụ phụ trợ. Do đó, sự mất cân bằng giữa phát điện và nhu cầu không chỉ giảm ở cấp độ hệ thống, mà những người chơi trên thị trường mới còn có thể cung cấp dịch vụ hệ thống cho người vận hành hệ thống.

Quản lý nhu cầu điện (DSM - Demand side management) và Điều chỉnh phụ tải điện (DR - Demand response)

Quản lý nhu cầu điện (DSM - Demand side management) và Điều chỉnh phụ tải điện (DR - Demand response)

Mô tả công nghệ
Quản lý nhu cầu điện (DSM - Demand side management) và Điều chỉnh phụ tải điện (DR - Demand response) mô tả thao tác phụ tải thông qua kiểm soát trực tiếp hoặc phản hồi lại các tín hiệu giá. Kiểm soát phụ tải hữu công thường được áp dụng cho người tiêu dùng (công nghiệp) lớn hơn, nơi có tiềm năng đáng kể. Để thay đổi nhu cầu từ phụ tải nhỏ hơn, ví dụ: trong các hộ gia đình, việc sử dụng định giá động sẽ phù hợp hơn. Điều này có thể kích thích sự thay đổi nhu cầu từ giờ cao điểm sang giờ thấp điểm để tránh tắc nghẽn mạng lưới hoặc hướng tới thời gian phát điện gió hoặc năng lượng mặt trời cao.

Các chương trình định giá có thể có bao gồm định giá theo thời gian sử dụng (TOU - Time-of-Use), định giá theo giờ cao điểm tới hạn (CPP), giảm giá giờ cao điểm (PTR) hoặc định giá theo thời gian thực (RTP). Có thể triển khai DSM và DR thông qua việc sử dụng cơ sở hạ tầng đo đếm điện năng tiên tiến (AMI) và đồng hồ thông minh cho phép hoạt động này thông qua trung tâm bộ gộp phụ tải hoặc năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi.

Đồng hồ thông minh cho phép giao tiếp hai chiều với khách hàng và đi kèm với các chức năng bổ sung như đọc từ xa, phát hiện mất điện tự động, giám sát điện áp và thậm chí kiểm soát phụ tải. Điều này cũng có thể đòi hỏi Hệ thống

Quản lý Điều chỉnh phụ tải (DRMS - Demand response management system) có khả năng tạo điều kiện cho giao tiếp hai chiều này với tối đa vài triệu điểm cuối và quản lý hiệu quả luồng thông tin với những điểm cuối này.

Hạ tầng đo đếm tiên tiến (AMI - Advanced metering infrastructure)

Hạ tầng đo đếm tiên tiến (AMI - Advanced metering infrastructure)

Mô tả công nghệ
Trong khi đồng hồ đo điện cơ và hệ thống thu thập dữ liệu công tơ điện tử tự động (AMR - Automatic Meter Reading) chỉ cung cấp thông tin một chiều, cơ sở hạ tầng đo đếm điện năng tiên tiến (AMI - Advanced metering infrastructure) dựa trên đồng hồ thông minh cho phép giao tiếp hai chiều giữa người tiêu dùng và đơn vị vận hành hệ thống phân phối. Đồng hồ thông minh có thể thực hiện đo điện thời gian thực trong khoảng thời gian ngắn, hỗ trợ chương trình biểu giá điện theo thời gian và xác định các sự kiện mất điện. Có thể thực hiện giám sát điện áp bằng đồng hồ thông minh và dữ liệu được đơn vị vận hành hệ thống phân phối sử dụng để đánh giá hiệu suất hệ thống và các biện pháp đối phó. Cơ sở hạ tầng đo đếm điện năng tiên tiến đã được triển khai trên toàn thế giới bởi những đơn vị vận hành hệ thống phân phối khác nhau, với các chức năng khác nhau.

Các công nghệ liên lạc rộng rãi cho đồng hồ thông minh là công nghệ không dây, ví dụ: GPRS, Zigbee hoặc WiMAX. Các hệ thống quản lý dữ liệu đồng hồ (MDMS - Meter Data Management System) phải được triển khai bằng đồng hồ thông minh và thường có thể được liên kết với các hệ thống khác như hệ thống quản lý mất điện (OMS - Outage management system) và Tự động hóa lưới điện phân phối (DA - Distribution Automation). Ngoài ra, nhiều đồng hồ thông minh có thể liên kết với mạng lưới khu vực gia đình (HAN) để liên kết với các thiết bị gia dụng thông minh, ví dụ: màn hình hiển thị trong nhà, kiểm soát phụ tải và điều chỉnh phụ tải điện. Đối với công nghệ liên lạc của đồng hồ thông minh, một số thông số phải được xem xét chẳng hạn như băng thông, độ trễ, chi phí, độ tin cậy, và an ninh mạng.

Bộ biến tần thông minh - Smart Inverters

Bộ biến tần thông minh - Smart Inverters

Mô tả công nghệ
Các khả năng của bộ biến tần mới đã liên tục được cải thiện trong những năm qua. Thay vì chỉ cung cấp điện cho lưới điện, các bộ biến tần thông minh ngày nay “thân thiện với lưới điện” hơn so với các sản phẩm trước đó. Chúng phản ứng với những thay đổi và biến động trong lưới điện theo cách được xác định trước và có thể cung cấp dịch vụ hệ thống cho đơn vị vận hành hệ thống, được điều khiển thông qua liên kết giao tiếp hai chiều. Vì các nhà máy điện mặt trời mái nhà và các nhà máy điện gió nhỏ được kết nối với nhiều lưới điện phân phối, điều quan trọng là có thể dự đoán được hoạt động của các nhà máy này và hỗ trợ ổn định hệ thống điện. Các chức năng quan trọng nhất của bộ biến tần thông minh bao gồm:

• Hỗ trợ điện áp tĩnh: Máy phát năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi trong lưới điện phân phối làm tăng điện áp cục bộ. Bằng cách thay đổi công suất phản kháng của máy phát NLTT biến đổi tùy thuộc vào điện áp đo cục bộ, có thể giảm thiểu tăng áp đến một mức độ nào đó.

• Hỗ trợ lưới điện động: Trong khi nhiễu tần, bộ biến tần thông minh có thể hỗ trợ cân bằng điện năng bằng cách tăng hoặc giảm công suất tác dụng. Trong các trường hợp sự cố điện áp động như tăng vọt điện áp hoặc đoản mạch, bộ biến tần có thể duy trì kết nối trong thời gian xảy ra sự cố lưới điện và thậm chí cung cấp hỗ trợ công suất phản kháng trong thời gian ngắn mạch (khả năng vận hành ở điện áp thấp thoáng qua, LVRT).

• Quản lý công suất tác dụng: Các điểm đặt cho công suất tác dụng và công suất phản kháng có thể được đơn vị vận hành hệ thống gửi, và tín hiệu phản hồi có thể được gửi qua liên kết giao tiếp hai chiều. Khả năng này có thể được sử dụng cho các tình huống khẩn cấp cũng như điều khiển Điện áp-VAR và cung cấp công suất phản kháng cho lưới điện truyền tải.

Thông thường, việc sử dụng các tính năng của bộ biến tần thông minh được quy định bởi các yêu cầu kỹ thuật trong các quy định về lưới điện truyền tải, đồng thời quy định việc xác minh tuân thủ các thông số kỹ thuật.

Bộ chỉnh áp có tải (OLTC - On-load tap changer) cho máy biến áp phân phối

Bộ chỉnh áp có tải (OLTC - On-load tap changer) cho máy biến áp phân phối

Mô tả công nghệ
Bộ chỉnh áp có tải (OLTC - On-load tap changer) đã được sử dụng rộng rãi với máy biến áp từ nhiều năm để điều chỉnh điện áp và chuyển pha mà không làm gián đoạn dòng tải. Công nghệ này gần đây cũng đã được áp dụng cho các máy biến áp phân phối ở cấp điện áp từ trung đến hạ áp. Lý do là sản xuất điện mái nhà tăng lên ở một số hệ thống điện dẫn đến tăng điện áp vào ban ngày và giảm điện áp hiện có trong giờ cao điểm buổi tối. Điều này có thể dẫn đến độ phân bổ điện áp lớn trong suốt cả ngày theo đó lưới điện phân phối không được thiết kế và có thể vi phạm khoảng điện áp tối đa cho phép (thường là ± 10% tùy theo các quy định và tiêu chuẩn áp dụng).

Do đó, đơn vị vận hành hệ thống phân phối đang ngày càng hướng tới máy biến áp phân phối với công nghệ Bộ chỉnh áp có tải để giảm thiểu tác động điện áp trong lưới điện phân phối thâm nhập quang điện cao. Điện áp được điều khiển cục bộ ở phía hạ áp của máy biến áp nhưng cũng có các khái niệm nâng cao với phép đo điện áp từ xa tại các nút tới hạn của lưới điện hạ áp. Máy biến áp phân phối của Bộ chỉnh áp có tải có thể độc lập hoặc liên kết liên lạc đến trung tâm điều khiển đơn vị vận hành hệ thống phân phối để điều khiển từ xa.

Công nghệ Tự động hóa lưới điện phân phối (DA - Distribution Automation)

Công nghệ Tự động hóa lưới điện phân phối (DA - Distribution Automation)

Mô tả công nghệ
Tự động hóa lưới điện phân phối (DA) bao gồm toàn bộ các công nghệ và hệ thống cung cấp nhiều tính năng và chức năng cho phép đơn vị vận hành hệ thống phân phối nâng cao hiệu quả vận hành và tăng cường tích hợp NLTT biến đổi. Với tỷ trọng NLTT biến đổi cao được tích hợp trong lưới điện phân phối, chẳng hạn như các nhà máy điện mặt trời áp mái và các nhà máy điện gió nhỏ, cần phải tăng cường giám sát việc sản xuất NLTT biến đổi và quản lý hiệu quả tích hợp nguồn điện vào lưới điện phân phối. Nhờ thực hiện các biện pháp hiệu quả, có thể tăng khả năng lưới điện phân phối có thể tiếp nhận một lượng lớn điện từ các nhà máy phát điện NLTT biến đổi. Đồng thời, giảm nhu cầu nâng cấp cơ sở hạ tầng lưới điện phân phối tốn kém do thiết bị có thể được sử dụng hiệu quả hơn và giảm thiểu tình trạng quá tải mạng lưới và các mức điện áp không cho phép.

Các chức năng cụ thể của Tự động hóa lưới điện phân phối liên quan đến tích hợp năng lượng tái tạo (NLTT) biến đổi bao gồm:
• Tăng cường giám sát và điều khiển từ xa các mạng lưới phân phối để sử dụng tối ưu hóa lưới phân phối và phát hiện các tình huống quá tải và vi phạm điện áp;
• Điều khiển bộ chỉnh áp tự động của máy biến áp cấp điện và phân phối dựa trên các phép đo điện áp tại chỗ hoặc từ xa;
• Truy cập vào cơ sở dữ liệu GIS về loại, vị trí, kích thước, cài đặt và khả năng điều khiển của các máy phát NLTT biến đổi;
• Khả năng quan sát (thời gian thực) các máy phát NLTT biến đổi về công suất tác dụng và công suất phản kháng cũng như các mức điện áp đo cục bộ;
• Khả năng kiểm soát NLTT biến đổi đưa vào lưới trong trường hợp khẩn cấp hoặc để cắt giảm hiệu quả công suất phát (san bằng phụ tải) nhằm giảm thiểu tắc nghẽn trong lưới điện phân phối;
• Điều khiển Vôn/VAR của máy phát NLTT biến đổi để giảm mức tăng điện áp bằng cách tiêu thụ công suất phản kháng;
• Đánh giá tình trạng lưới điện phân phối để xác định các tắc nghẽn tiềm ẩn tại các vị trí không lắp đặt thiết bị đo;
• Dự báo NLTT biến đổi để xác định các tắc nghẽn tiềm ẩn và thực hiện các biện pháp giảm thiểu;
• Điều chỉnh phụ tải điện và Quản lý nhu cầu điện để giảm tắc nghẽn lưới điện cục bộ do sản lượng NLTT biến đổi trong lưới điện cao.

Tự động hóa lưới điện phân phối còn bao gồm các hệ thống và công nghệ quản lý khác để tăng hiệu quả trong lưới điện phân phối, chẳng hạn như vận hành các thiết bị cắt tự đóng lặp lại từ xa và bộ chuyển mạch, hệ thống định vị và cách ly lỗi, hệ thống quản lý mất điện, hệ thống quản lý lực lượng lao động di động. Tuy nhiên, vì những hệ thống thiết bị này hầu như không liên quan đến tích hợp NLTT biến đổi nên không được xem xét thêm trong tài liệu này.